Xin hỏi về tranh chấp đất đai

trần văn hữu
Người gửi: trần văn hữu | Thời gian gửi: 22/02/2012 10:32:12 Trong: HĐ Tranh chấp | Trả lời: 3 | Lần xem: 250

Chi tiết câu hỏi

Ông nội tôi có 4 người con, bố tôi chị cả bác trai thứ 2 và chú út. Ông nội tôi đã mất không để lại di chúc bà vẫn còn, ông nội tôi có để lại 2 mảnh đất , 1 đứng tên bác thứ hai diện tích khoảng 450(m2), 1 đứng tên bố tôi, chú út đã được hợp tác xã chia đất ở diện tích khoảng 190m2 nhưng đã bán đi, đất bố tôi đứng tên và đã làm sổ đỏ năm 1996 mảnh đất diện tích 600(m2) bay giờ chú út đòi chia lại mảnh đất bố tôi đang ở.

Hỏi chú tôi có được hưởng một phần mảnh đất bố tôi đang ở không? Và nếu phải chia thì chia lại như thế nào. Và nó được quy định tại điều, khoản, điểm nào?

Tên liên hệ
Email (*)
(Yêu cầu gõ tiếng Việt có dấu. Vui lòng không đặt câu hỏi mới tại đây.)

Danh sách câu trả lời (3)

 
 
  • Trả lời bởi: vũ tuấn, vào lúc: 23/02/2012 02:25:30
    Chào bạn! Vấn đề bạn quan tâm mình xin được phúc đáp như sau:

    Như bạn trình bày thì nguồn gốc 2 mảnh đất trên là của ông bà nội bạn để lại, nếu vấn đề chỉ dừng lại ở đó thì thực tế việc giải quyết  phân chia phần di sản của ông nội bạn để lại trong trường hợp không có di chúc mà những người có quyền và nghĩa vụ liên quan thuộc hàng thừa kế thứ nhất không tự thỏa thuận với nhau được thì yêu cầu tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật về việc phân chia di sản thừa kế theo pháp luật

    Theo quy định tại Điều 674 của Bộ Luật Dân sự thì "Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định". Những người sau đây được hưởng thừa kế theo pháp luật bao gồm:  
    "1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
    a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
    b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
    c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
    2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
    3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản." Điều 676, Bộ Luật Dân sự năm 2005.

    Vấn đề thực tế ở đây cả 2 mảnh đất trên đã được bác và bố của bạn xác lập quyền sở hữu và hợp thức hóa chủ quyền của mình đối với từng mảnh đất cụ thể như thông tin bạn cung cấp thì mảnh đất 450m2 đã được đứng tên QSDĐ bác thứ hai, còn mảnh đát 600m2 đứng tên sổ đỏ là bố bạn từ năm 1996. Khoản 20 Điều 4 Luật Đất đai có quy định: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sổ đỏ) là giấy chứng nhận do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp cho người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

    Theo những quy định nói trên thì nhà, đất đã mang tên ai có nghĩa nhà, đất này đã được Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất.

    Việc để xác định 1 hay nhiều quyền sử dụng đất là di sản của người đã chết để lại được quy định cụ thể Nghị quyết số 02 Của HĐTPTANDTC:

    1.1. Đối với đất do người chết để lại (không phân biệt có tài sản hay không có tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất) mà người đó đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003 thì quyền sử dụng đất đó là di sản.

    1.2. Đối với trường hợp đất do người chết để lại mà người đó có một trong các loại giấy quy định tại các Khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003, thì kể từ ngày 01/7/2004 quyền sử dụng đất đó cũng là di sản, không phụ thuộc vào thời điểm mở thừa kế.

    1.3. Trường hợp người chết để lại quyền sử dụng đất mà đất đó không có một trong các loại giấy tờ được hướng dẫn tại tiểu mục 1.1 và tiểu mục 1.2 mục 1 này nhưng có di sản là nhà ở, vật kiến trúc khác (như: nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh, giếng nước, nhà để ô tô, nhà thờ, tường xây làm hàng rào gắn với nhà ở, các công trình xây dựng trên đất được giao để sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh như nhà xưởng, kho tàng, hệ thống tưới, tiêu nước, chuồng trại chăn nuôi hay vật kiến trúc khác hoặc trên đất có các tài sản khác như cây lấy gỗ, cây lấy lá, cây ăn quả, cây công nghiệp hay các cây lâu năm khác) gắn liền với quyền sử dụng đất đó mà có yêu cầu chia di sản thừa kế, thì cần phân biệt các trường hợp sau:

    a) Trong trường hợp đương sự có văn bản của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền xác nhận việc sử dụng đất đó là hợp pháp, nhưng chưa kịp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thì Toà án giải quyết yêu cầu chia di sản là tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất và quyền sử dụng đất đó.

    b) Trong trường hợp đương sự không có văn bản của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền xác nhận việc sử dụng đất đó là hợp pháp, nhưng có văn bản của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền cho biết rõ là việc sử dụng đất đó không vi phạm quy hoạch và có thể được xem xét để giao quyền sử dụng đất, thì Toà án giải quyết yêu cầu chia di sản là tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất. Đồng thời phải xác định ranh giới, tạm giao quyền sử dụng đất đó cho đương sự để Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền tiến hành các thủ tục giao quyền sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đương sự theo quy định của pháp luật về đất đai.

    c) Trong trường hợp Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền có văn bản cho biết rõ việc sử dụng đất đó là không hợp pháp, di sản là tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất không được phép tồn tại trên đất đó, thì Toà án chỉ giải quyết tranh chấp về di sản là tài sản trên đất đó.

    1.4. Trường hợp người chết để lại quyền sử dụng đất mà đất đó không có một trong các loại giấy tờ quy định tại tiểu mục 1.1, tiểu mục 1.2 mục 1 này và cũng không có di sản là tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất được hướng dẫn tại tiểu mục 1.3 mục 1 này, nếu có tranh chấp thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Uỷ ban nhân dân theo quy định của pháp luật về đất đai.

    Trên đây là toàn bộ những phân tích và luật áp dụng cụ thể để bạn và gia đình nắm bắt rõ ràng và cụ thể về mặt pháp luật quy định đối với trường hợp vướng mắc của gia đình. Nhưng đó là ta đang nhìn nhận và xem xét về lý, còn góc độ tình cảm thì mình nghĩ chúng ta nên giải quyết sao cho thấu tình đạt lý để giữ trọn ven mọi thứ và quan trọng nhất vẫn là tình cốt nhục bạn ạ.

    Chúc bạn và gia đình mạnh khỏe và hạnh phúc!

    Bạn có thể liên hệ trực tiếp đến chúng tôi nếu có vấn đề về luật cần được tư vấn. Rất mong nhận được sự hợp tác.

    Lsu Tuấn - VPL Quốc Tế Thăng Long - 188 Nguyễn Lương Bằng - Đống Đa - HN

    ĐT: 0985192607 - 0936271111

    Email: tuan.thanglonglaw@gmail.com

    Weside: thanglonglaw.com.vn

  • Trả lời bởi: Luật sư Lê Bá Châu, vào lúc: 27/02/2012 02:43:44

    Chào bạn

    Về câu hỏi của bạn tôi trả lời như sau:

    Nếu không có văn bản nào khẳng định rằng quyền sử dụng đất hiện tại mà bố bạn đang được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) thì chú út không thể đòi chia mảnh đất này theo thủ tục thừa kế được.

    Vì theo hiện quyền sử dụng đất này đang được ghi nhận cho bố bạn, ông nội bạn không phải là người đứng tên trên sổ đỏ.

    Bộ phận pháp lý – Luật sư Lê Bá Châu

    DĐ: 0903403755 – Email: chaulb@thaihaco.com        
    _______________________

    CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ DỊCH VỤ THÁI HÀ

    Đ/C: 160 Tây Sơn, Đống Đa, Hà Nội

    ĐT: 0435.335.336 – 0435.335.338

    Website: http://thaihaco.vn

  • Trả lời bởi: Ly Thi Thu Ha, vào lúc: 22/03/2012 05:37:10

    Xin chào luật sư!

    Ba mẹ chồng tôi đã li thân và phần đất đai 2 người có được theo thỏa thuận đã chia đều cho đôi bên. Sau li thân, mẹ chồng tôi sống với người con thứ 8. Ba chồng tôi sống với chồng tôi là người con thứ út. Sau khi tôi về làm dâu, 2 vợ chồng tôi vẫn còn phụng dưỡng ba đến ngày nay. Tôi về làm dâu đã hơn 10 năm, luôn làm đúng phận dâu con. Năm 2009, ba chồng tôi giao phần đất gồm 3060 (m2) cho chồng tôi đứng tên. Nhưng nay ba chồng nghe theo lời của anh(chị) chồng, kiện vợ chồng tôi để lấy lại phần đất đó (luôn cả miếng đất mà vợ chồng tôi đã tách ra từ phần đất đó để ban cho người khác) trong khi vợ chồng tôi vẫn còn đang nuôi dưỡng ông. Xin hỏi, ba chồng tôi làm vậy là đúng hay sai? Ông có lấy lại được đất không?

HỎI - ĐÁP